Trạng nguyên Việt

Nguyễn Giản Thanh ( 1482 - ? )

nguyengianthanh

Nguyễn Giản Thanh, người làng Ông Mặc (làng Me), huyện Ðông Ngàn (nay là Từ Sơn), Bắc Ninh. Sống vào khoảng đầu thế kỷ XVI; sinh năm 1482, mất năm nào không rõ. Ông lúc nhỏ rất thông minh, mới 16 tuổi đã thông hiểu rất nhiều sách vở, sau đỗ Trạng Nguyên; nên tục gọi là Trạng Me.

Một hôm đang đi học

 

NGUYỄN THIẾN (1495-1557)

nguyenthien

Người cùng quê với Trạng cậu. 38 tuổi đỗ Hội nguyên, được ban Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ nhất danh (Trạng nguyên), khoa Nhâm Thìn, niên hiệu Đại Chính 3 (1532) đời Mạc Đăng Doanh. Làm quan nhà Mạc đến chức Lại bộ Thượng thư, Ngự sử đài đô ngự sử, Đông các đại học sĩ, Nhập thị kinh diên, tước Thư

 

Phạm Trấn

phamtran


Người xã Lam Kiều, huyện Gia Phúc , phủ Hạ Hồng , Hải Dương ( nay thuộc huyện Tứ Lộc, Hải Hưng ). Đỗ Trạng nguyên khoa Bính Thìn , niên hiệu Quang Bảo thứ 3 (1556), đời Mạc Tuyên Tông . làm quan cho nhà Mạc , khi nhà Mạc mất, cự tuyệt không ra làm quan cho nhà Lê nên bị ám hạị
Khoảng đời nhà Mạc, ở

 

Vũ Duệ ( ? - 1520 )

vudue

Còn có tên là Vũ Công Duệ, tên lúc nhỏ là Nghĩa Chi, người xã Trình Xá, huyện Sơn Vi, trấn Sơn Tây( nay thuộc huyện Thanh Sơn, tỉnh Vĩnh Phú). Đỗ Trạng nguyên khoa Canh Tuất, niên hiệu Hồng Đức thứ 21 (1490). Làm quan đến Lại bộ Thượng thư kiêm Đông các Đại học sĩ chầu Kinh diên, được tặng Thiếu bảo,

 

TRẠNG NGUYÊN ĐÀO SƯ TÍCH (1350 - 1396)

daosutich

Quê quán: làng Cổ Lễ, nay thuộc thị trấn Cổ Lễ, huyện Nam Trực. Đỗ Trạng Nguyên khoa Giáp Dần 1374 lúc 24 tuổi, đời vua Trần Duệ tông. cả 3 kỳ thi Hương, thi Hội, thi Đình ông đều đỗ đầu, nên gọi là Tam nguyên. Làm quan đến chức Nhập nội hành khiển. Ông từng viết bài đề tựa cho 8 tập sách Bảo hoà

 

Lê Nại ( 1528 - ? )

lenai


Có sách chép là Lê Đỉnh, người xã Mộ Trạch , huyện Đường Am, phủ Thượng Hồng( nay là huyện Cẩm Bình, Hải Hưng ). Đỗ Trạng nguyêhn khoa Ất Sửu, niên hiệu Đoan Khánh thứ nhất (1505), đời Lê Uy Mục. Làm qua đến Hộ bộ Thị Lang , lúc mất được tặng tước Đạo Trạch Bá.


Ông thuở bé nhà rất nghèo, phải vừa học,

 

TRẠNG NGUYÊN LÊ ÍCH MỘC

LeIchMoc

Trạng nguyên Lê Ích Mộc sinh ngày 2.2.1458 tại làng Ráng, Thuỷ Đường, Thuỷ Nguyên, Hải Phòng. Thân phụ là ông Lê Văn Quang, Thân mẫu là bà Nguyễn Thị Lệ. Thủa nhỏ Lê Ích Mộc là một cậu bé thông minh, ham học và ngoan ngoãn được bà con làng xóm yêu quý.

 Đêm đêm, dưới ánh sáng của trăng khuya,

 

Đỗ Quang – Vị quan thương dân

lang do quang

Danh nhân Đỗ Quang còn gọi là Đỗ Tông Quang sinh ngày 25 tháng 9 năm Đinh Mão ( 1807) trong một gia đình khoa bảng ở xã Hoa Điếm, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương. Năm 1827 ông được xung chức hành tẩu Bộ Binh.Năm 25 tuổi ông thi đỗ Đồng Tiến sỹ. Khoa thi năm Nhâm Thìn (1832) ông thi đỗ tiến sĩ sau đó

 

Phạm Phú Thứ (1821-1882)

pham phu thu

Phạm Phú Thứ hiệu là Trúc Ðường, biệt hiệu Giá Viên, tổ tiên họ Ðoàn gốc ở Bắc, vào Quảng-nam mới đổi ra họ Phạm Phú. Năm 1843, đỗ Tiến-sĩ (vì thi Hương và thi Hội đỗ đầu nên gọi là Song nguyên ; thi Ðình ông đứng thứ ba, đầu bảng đệ tam giáp).

 

Ra làm quan năm 1844, bắt đầu với chức Hành

 

Trịnh Huệ ( 1701 - ? )

trinhtue

Trịnh Tuệ (nhiều sách gọi là Trịnh Huệ, tên hiệu là Cúc Lam; 1701–?) là trạng nguyên trong lịch sử Việt Nam. Ông quê ở Biện Thượng (nay thuộc xã Vĩnh Hùng, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa), trú quán tại xã Bất Quần (nay là xã Quảng Thịnh, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa). Ông đỗ trạng nguyên khoa

 

Đặng Công Chất ( 1621 - 1683 )

dangcong

Đặng Công Chất (1621-1683), húy là Hàm, quê ở làng Phù Đổng, huyện Tiên Du, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc (nay thuộc Gia Lâm, Hà Nội). Ông đỗ thủ khoa kỳ thi Hương năm Tân Tỵ (1641); đến năm Tân Sửu (1661) dự thi Hội, đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ đệ nhất danh (Trạng nguyên). Theo thông lệ do phủ chúa Trịnh đặt

 

Lưỡng quốc Trạng nguyên Nguyễn Đăng Đạo

nguyendangdao

Sinh trưởng nơi quê hương văn hiến, trong một dòng họ nhà nho, một gia đình có người mẹ thông minh, nhân đức, mọi người cho phong độ hiền tài, Nguyễn Đăng Đạo thuở nhỏ đã tỏ ra hơn người, thông minh đĩnh ngộ, chăm chỉ học hành, có chí nối nghiệp cho dòng họ.

 

Tương truyền khi phu nhân Ngọc

 

Trạng nguyên Phạm Công Bình

phamcongbinh

Ông là người xã An Lạc, huyện Yên Lạc, Phủ Tam Đái, Sơn Tây ( nay là thôn Yên Lạc xã Đồng Văn huyện Yên Lạc tỉnh Vĩnh Phúc)
Ông xuất thân từ con nhà nghèo nhưng có chí lớn, thông minh hơn người. Ông đỗ đệ nhất Giáp khoa thi năm Giáp Tuất (1124) Triều Lý. Vì có công lớn với Triều Lý nên được ban Quốc

 

Lê Văn Thịnh (1038-?)

Le Van Thinh

Lê Văn Thịnh ( 1038-?) người làng Đông Cửu, quê xã Chi Nhị, tổng Đại Lai, huyện Yên Định, lộ Bắc Giang, ngày nay là thôn Bảo Tháp, huyện Gia Lương, tỉnh Bắc Ninh. Ông đỗ thủ khoa năm 1075 kỳ thi Minh kinh bác học thời Lý Nhân Tông - tức là thủ khoa về khoa cử đầu tiên của Việt Nam. Là người có tài năng,

 

Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm

33

Nguyễn Bỉnh Khiêm nguyên có tên khai sinh là Nguyễn Văn Đạt, sinh năm Tân Hợi, niên hiệu Hồng Đức thứ 22 dưới triều Lê Thánh Tông (1491), ở thời kỳ được coi là thịnh trị nhất của nhà Lê sơ. Ông sinh tại làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, phủ Hạ Hồng, trấn Hải Dương (nay thuộc xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo,

 

Lương Thế Vinh

32

Trạng nguyên Lương Thế Vinh, tự là Cảnh Nghị, hiệu là Thụy Hiên, sinh ngày 1 tháng 8 năm Tân Dậu (1441) trong một gia đình nông dân có học ở làng Cao Hương, huyện Thiên Bản, nay là thôn Cao Phương, xã Liên Bảo, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.

Thời niên thiếu, Lương Thế Vinh đã nổi tiếng là thần đồng,

 

Trạng “Lợn” - Nguyễn Nghiêu Trư

31

Ông hiệu là Tùng Khê người xã Phù Lương, huyện Võ Giàng, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc.
Tương truyền lúc nhỏ theo cha làm nghề thịt lợn, lại đẻ vào tháng 10 tức tháng Hợi nên đặt tên là Nguyễn Văn Trư và thường gọi là cậu Lợn (chữ Hán “Trư” nghĩa là lợn). Ông bản tính nhanh nhẹn, thông minh, lúc nhỏ có lần

 

Nguyễn Trực

30

Nguyễn Trực (1417 - 1473) là vị Trạng nguyên đầu tiên trong lịch sử khoa cử Việt Nam. Khi đi sứ Trung Quốc, ông được các sĩ phu ở đây nể phục, xưng tặng là "lưỡng quốc Trạng nguyên".
Nguyễn Trực sinh ra trong một gia đình thuộc dòng dõi có học vấn, đỗ đạt cao: Ông nội là tiến sĩ Nguyễn Bính (dưới triều

 

Mạc Đĩnh Chi

29

Mạc Đĩnh Chi làm quan đời Trần Anh Tông. Ông vừa là trạng nguyên của Đại Việt và cũng được phong làm lưỡng quốc trạng nguyên (Trung Hoa và Đại Việt) khi sang sứ Trung Hoa .

Mạc Đĩnh Chi là người làng Lũng Động, huyện Chí Linh (nay thuộc xã Nam Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương). Ông có tướng mạo

 

Nguyễn Hiền

28

Nguyễn Hiền quê ở Thượng Nguyên (Hà Nam) nổi tiếng là thần đồng: tài ứng đối của Hiền đố ai bì kịp. Khi đỗ trạng nguyên, ông mới mười ba tuổi, vì vậy người ta còn gọi ông là trạng trẻ con.
Tương truyền, Hiền vừa thông minh, vừa khéo tay. Năm lên 7 ông nặn một con voi đất, chân voi đặt trên mình cua,

 


Bí quyết học giỏi

Bí quyết học tốt lí thuyết môn Hóa học

Bí quyết học tốt lí thuyết môn Hóa học

Nếu không nắm được lí thuyết môn Hóa học có lẽ bạn sẽ thấy phần bài tập cùng các phương trình hóa học thật rắc rối và "khoai" đấy. Học Hóa...

Những bí quyết cho mùa thi đạt kết quả tốt

Những bí quyết cho mùa thi đạt kết quả tốt

Dưới đây là 6 "bảo bối" được tham khảo từ các tài liệu khoa học về phương pháp học tập và ôn thi sao cho "học ít, nhớ lâu, thi...

10 chỉ dẫn để học ngoại ngữ thành công

10 chỉ dẫn để học ngoại ngữ thành công

Ngoại ngữ chính là chìa khóa mở cánh cửa tương lai. Hãy đọc 10 chỉ dẫn sau để nắm được chiếc chìa khóa ấy. 1/ Thiết lập những ước muốn thực...

Trạng nguyên Việt

Nguyễn Giản Thanh ( 1482 - ? )

Nguyễn Giản Thanh ( 1482 - ? )

Nguyễn Giản Thanh, người làng Ông Mặc (làng Me), huyện Ðông Ngàn (nay là Từ Sơn), Bắc Ninh. Sống vào...

NGUYỄN THIẾN (1495-1557)

NGUYỄN THIẾN (1495-1557)

Người cùng quê với Trạng cậu. 38 tuổi đỗ Hội nguyên, được ban Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ...

Phạm Trấn

Phạm Trấn

Người xã Lam Kiều, huyện Gia Phúc , phủ Hạ Hồng , Hải Dương ( nay thuộc huyện Tứ Lộc,...